VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------*------
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa , hiện đại hóa, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, triển khai các dự án lớn của nền kinh tế diển ra mang tính quy luật; đất đai được chuyển đổi ở nước ta đã góp phần phát triển mạnh nền kinh tế - xã hội và bảo đảm tiềm lực an ninh quốc phòng. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nước ta đặt ra các vấn đề cần được giải quyết một cách đồng bộ là: đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất, chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động, ổn định và nâng cao thu nhập đời sống.
Theo thống kê cho thấy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có gần 49.000 hộ dân với hàng trăm ngàn lao động đã di dời tái định cư, trên 40% tái định cư ở các chung cư. Tình trạng việc làm của người dân sau tái định cư ở thành phố theo điều tra của Viện kinh tế thành phố; việc làm ổn định chiếm: 37,8% , việc làm bấp bênh: 15,8%, không có việc làm: 23,2%, còn đi học:18,3%, nội trợ: 4,9%. Có đến 37,7% về nơi ở mới cho răng tình trạng việc làm của các thanh niên trong gia đình xấu hơn so với trước tái định cư; ý kiến cho rằng việc làm tốt hơn chỉ chiếm 11% và phần lớn cho rằng việc làm cũng vậy chiếm: 52,3%.
Vấn đề ổn định việc làm, ổn định thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân sau khi tái định cư luôn được Thành Ủy, Ủy Ban Nhân Dân thành phố quan tâm chủ trương chỉ đạo. Tuy nhiên trong thực tế sau khi tái định cư ở địa phương mới, đa số người lao động của hộ sau tái định cư gặp nhiều khó khăn trong việc làm và tìm việc làm mới ổn định, theo khảo sát thực tế có nhiều nguyên nhân cụ thể ;
- Về đặc điểm : Người dân sau khi tái định cư chủ yếu là người nghèo, trên 80% có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn thấp, việc làm đơn giản không ổn định, nghề nghiệp của họ đa số là công việc lao động phổ thông, cá thể hoặc nhóm sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ như : công nhân ngành tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, cắt tóc, uốn tóc, chạy xe vận chuyển, bán hàng rong, bốc xếp…, nên việcđịnh cư ở một chung cư cao tầng và các khu dân cư mới hầu hết các cơ hội việc làm không nhiều, khó thay đổi việc làm mới, khó tìm lại công việc như trước đó ở nơi định cư mới, dù công việc trước đó đơn giản nhưng đã nuôi sống họ. Từ đó đã ảnh hưởng đến việc làm, có nhiều người dân sau khi di dời vẫn quay về chổ củ để làm ăn, tốn nhiều chi phí đi lại, và các chi phí khác, kể cả những hộ có người lao động đã là công nhân viên chức ở các công ty với việc làm, thu nhập ổn định khi di chuyển chổ ở mới, cũng bị ảnh hưởng giảm sút thu nhập. Điều đáng quan tâm nhất là có 40% người dân cho rằng việc làm của họ sau khi tái định cư gặp nhiều tình trạng khó khăn nhiều hơn, trong đó trên 20% đã lâm vào cảnh thất nghiệp, nhiều hộ dân phải bán nhà tái định cư để đến các khu vực có nhiều cơ hội tìm được việc làm hơn để sinh sống.
- Về việc thực hiện các giải pháp chính sách hổ trợ việc làm thì cũng có nhiều hạn chế, chưa đạt kết quả tốt, vì:
+ Các cơ quan chức năng ở địa phương trước ,sau tái định cư và các Trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm chưa thực hiện được việc tư vấn nghề nghiệp – việc làm cho người dân. Thông tin hướng nghiệp, thị trường lao động không được chuyển tải đầy đủ, người dân không biết định hướng nghề nghiệp, học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp nào là phù hợp nơi ở mới, phù hợp với năng lực sở trường.
+ Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề không phù hợp với việc làm và không thể đáp ứng đầy đủ các ngành nghề đa dạng của thị trường lao động nơi ở mới , đồng thời do trình độ hạn chế người dân khó tiếp cận học nghề ở các trường chính quy mà thường học nghề trong các cơ sở sản xuất, dịch vụ nên khó vào làm việc trong các doanh nghiệp ở các KCX – KCN, các ngành công nghiệp, các ngành kinh tế , dịch vụ cần lao động lành nghề, cần kỹ năng làm việc, tác phong công nghiệp.
+ Chính sách hổ trợ học nghề cho người dân tái định cư trước đây ( 1 triệu đồng/người/lượt ) không đủ trang trải trong thời gian học nghề.
* Các vấn đề trên cho thấy các chương trình tái định cư có làm được việc chăm lo về nhà ở, chính sách đền bù di dời, thủ tục hành chính di dời, còn các vấn đề Văn hóa – việc làm – xã hội chưa được thực hiện tốt, có hiệu quả như chủ trương chính sách mong muốn.
Để chăm lo cho người dân sau tái định cư về nghề nghiệp – việc làm, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố đã ban hành quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 27/10/2006 và triển khai việc thành lập “ Quỷ hổ trợ đào tạo và việc làm cho người có đất bị thu hồi để thực hiện dự án đầu tư” với mục đích thực hiện tốt việc hổ trợ văn hóa, hướng nghiệp đào tạo và giải quyết việc làm, chuyển đổi việc làm, tạo việc làm. Quỷ do giám đốc Sở Lao Động – TBXH.TP là chủ tịch hội đồng.
Để thực hiện tốt chủ trương chính sách này, kiến nghị cần phải tiến hành đồng bộ một số giải pháp :
- Thiết lập hệ thống tổ chức tại Thành phố và quận huyện có trách nhiệm về các vấn đề hổ trợ tư vấn cho người dân trước và sau tái định cư , đặc biệt vấn đề nghề nghiệp – việc làm, để khảo sát nắm chắc về hiện trạng việc làm của người dân trước khi di chuyển và tình hình nhu cầu việc làm tại nơi di chuyển đến, thông tin tư vấn và có biện pháp hổ trợ cụ thể cho từng trường hợp người dân sau khi tái định cư có nghề nghiệp – việc làm phù hợp ổn định lâu dài.
- Giao trách nhiệm cho các Trung tâm giới thiệu việc làm nhà nước phối hợp các quận, huyện, phường, xã và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn bố trí tái định cư thực hiện chương trình tư vấn, thông tin, giới thiệu việc làm cho người dân tái định cư
- Xây dựng các chương trình đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh nơi người dân chuyển đến định cư. Ưu tiên chính sách khuyến khích doanh nghiệp tiếp nhận người dân tái định cư đào tạo nghề và bố trí việc làm. Có chính sách cụ thể ưu tiên hổ trợ đầu tư các cơ sở dạy nghề và các chương trình phát triển sản xuất, dịch vụ và việc làm ở các vùng bố trí tái định cư của Thành phố.
- Kết hợp các chương trình việc làm, chương trình xã hội để định hướng, đào tạo kỹ năng, giúp vốn cho người dân tái định cư tự tạo việc làm (Qua khảo sát có trên 50% người dân có nguyện vọng này)./.
Trần Anh Tuấn
Phó giám đốc
Trung tâm giới thiệu việc làm TPHCM -
Sở Lao Động – TBXH.TP.